Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi công. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi công. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Hướng dẫn thi công mái ngói kiểu biệt thự

Chào các bạn !
Hôm nay mình sẽ hướng dẫn chi tiết quy trình thi công 1 mái ngói kiểu biệt thự đơn giản nhé
1. Về hệ khung kèo:
- Khung kèo tùy theo thiết kế, có thể bằng thép hộp hoặc thép V, bạn nên thống kê lại toàn bộ khối lượng thép theo thực tế thi công.
- Đòn tay, thường làm bằng thép hộp, tùy thiết kế
- Mè thường sử dụng hộp 3 vuông.
- Sau thi thống kê, bạn tiến hành cho hàn khung kèo, sơn lót và sơn phủ hoàn thiện.
- Tiến hành lắp đặt hệ khung , kiểm tra kỹ mối hàn, liên kết.


- Lưu ý những điểm giao mái, phải đặt máng tole chống thấm dưới.
2. Lợp ngói:
- Sau khi hoàn thành hệ khung kèo, tiến hành lợp ngói
- Lưu ý phải ke góc kỹ lưỡng, ngói phải được đặt so le hàng với nhau
- Phải bắn đủ vít lục giác ( Nếu là loại ngói dùng vít )
- Ở điểm giao nhau phải cắt ngói liền khối
- Ngói úp nóc phải đổ hồ tô vào 2 cạnh thành
- Ngói viền lợp đều mép và sát viền mái
- Kiểm tra lại toàn bộ mái ngói, chống thấm trước khi đóng trần thạch cao.
- Sơn lại phần ngói nếu bị dính hồ.



Quy trình thi công sàn bê tông chuẩn

Chào các bạn !

Hẳn là dân xây dựng đã từng thi công sàn rất nhiều, tuy nhiên, đại đa số các bạn chỉ kiểm tra sơ sài về cốt thép và mác bê tông, vậy còn tiêu chuẩn một sàn BTCT thì sao, hôm nay mình sẽ viết lại 1 quy trình chuẩn cho thi công sàn bê tông nhé.

1. LẤY CỐT SÀN:
Việc lấy cốt sàn được thực hiện theo phương pháp đo mực nước chuẩn hiện hành.Sàn cần có cốt thấp nhất là cốt 0 theo mức chuẩn của từng địa phương. 

2. CHỐNG THẤM SÀN:
Nhằm mục đích chống thẩm thấu hóa chất hoặc các dung dịch không có lợi cho môi trường từ trên bề mặt bê tông vào nền đất và chống thẩm thấu hơi ẩm từ nền lên sàn bê tông. Việc chống thấm sàn còn nhằm mục đích chống mất nước trong quá trình thủy hóa, giảm tiêu hao nước, giảm công dưỡng hộ... Việc chống thấm sàn được thực hiện bằng nhiều cách, trong đó tiêu biểu là các phương án sau:
- Trải vải địa kĩ thuật hoặc vải PP dệt, kết hợp phủ màng bitum nhũ tương
- Trải vải PE
- Trải tấm trải bitum cuộn dán nóng hoặc nguội


3. ĐỔ BÊ TÔNG:
Thực hiện đổ bê tông theo mác và độ dày theo thiết kế. Tùy theo dạng bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) hay trộn theo mẻ, ta sẽ thu được các loại sàn có độ ổn định khác nhau. Bê tông tươi được trộn theo tỉ lệ thành phần chuẩn và trộn nguyên khối nên độ ổn định vữa cao hơn bê tông trộn tay theo mẻ nhỏ. Vữa bê tông tươi có độ ổn định cao, lượng nước vừa đủ, giảm hiện tượng tạo bọt trên bề mặt bê tông. Sau khi gạt lấy phẳng, chờ cho đến khi bề mặt vữa có thể đi lại được (độ cứng xuyên kim khoảng 1mm), mới tiến hành xoa- tạo phẳng bằng máy mài. Trong quá trình xoa lấy phẳng cần tránh không nên rắc hỗn hợp cát xi măng mác cao hoặc xi măng không do có thể gây tăng mác bê tông mặt làm giảm khả năng thấm sơn của bề mặt bê tông. Đối với bê tông trộn thủ công, do tỉ lượng nước/ xi măng/ cát không ổn định nên rất dễ gây hiện tượng nứt giữa các khối, thừa nước- nổi bọt, lệch cốt nền. Khi đó cần tiến hành đổ lớp vữa gạt mặt. 

4.GẠT VỮA MẶT:
Trong trường hợp buộc phải đổ thủ công, do tỉ lượng các hợp phần bê tông khác nhau nên khó có thể đảm bảo độ đồng đều, nên sau khi đầm dùi và đầm bàn, ta chờ cho khối bê tông tăng cứng một phần rồi tiến hành gạt vữa mặt (xi măng/ cát= 1/3 đến 1/4), xoa bằng bàn xoa thủ công hoặc máy xoa. Tuy nhiên trước khi tiến hành xoa tạo phẳng cần kiểm tra độ cứng của vữa gạt mặt. Cần tránh không để thừa nhiều nước hoặc tiến hành xoa khi bề mặt sàn còn ướt sẽ gây nổi xi măng gây hiện tượng mác bề mặt quá cao hoặc cháy xi măng cục bộ, cả 2 trường hợp đều gây hiện tượng kém hấp thu sơn trên bề mặt bê tông. Lớp vữa gạt mặt có thể tiến hành thi công trong vòng 24h sau khi đổ bê tông để đảm bảo kết cấu giữa các lớp. Trường hợp lớp bê tông đổ trước đã đạt độ cứng tối đa (sau 28 ngày) thì phải sử dụng phụ gia tăng dính để đảm bảo liên kết giữa lớp vữa mới và bê tông cũ. 

5.BẢO DƯỠNG SÀN:
Sau khi đổ xong, cần tiến hành dưỡng hộ trong thời gian 28 ngày (không có phụ gia) hoặc ngắn hơn nếu sử dụng phụ gia thủy hóa nhanh. Trường hợp sàn cũ đổ thêm lớp vữa mặt, thời gian chờ thủy hóa là khoảng 1 tuần đến 10 ngày. Trong thời gian bảo dưỡng, có thể tiến hành mài tạo phẳng (ướt hoặc khô) bằng đá mài hoặc giấy nhám. Tránh sử dụng các loại máy có trọng lượng lớn hoặc các va đập mạnh trên bề mặt. Đối với trường hợp bề mặt không đủ độ nhẵn, có thể sử dụng hỗn hợp bột trám vá để tạo phẳng.



6.CHUẨN BỊ BỀ MẶT SÀN BÊ TÔNG:
Sau thời gian thủy hóa đủ (28 ngày đối với bê tông và 12 ngày đối với vữa trát), ta tiến hành chuẩn bị bề mặt sàn. Bề mặt sàn được coi là đủ tiêu chuẩn thi công sơn sàn là:
- Đủ mác: cốt sàn cần đủ mác theo thiết kế để đảm bảo độ chịu lực.
- Đủ khô: sàn có thể hút nước và thóat nước đều, không bị ướt khu vực, khi sờ tay thấy không lạnh hoặc tốt nhất là ấm.
- Đủ phẳng: toàn khối sàn cần có độ phẳng tương đối, không bị lệch cốt tới mức mắt thường có thể nhận thấy. Tham khảo tiêu chuẩn độ phẳng DIN 18202.
- Đủ mịn và đủ xốp: bề mặt cần có đủ độ xốp để tạo điều kiện cho sơn ngấm sâu, bám dính tốt với nền. Tránh hiện tượng sứt vỡ sàn gây ảnh hưởng đến mĩ quan của công trình.
- Đủ sạch: không chứa tạp chất như dầu mỡ, vết cao su, bitum nhũ tương, asphan, đất, cát, bụi.
Cần tiến hành làm sạch bằng máy chuyên dụng để đảm bảo bề mặt không còn các tạp. Lưu ý, cần sử dụng máy hút bụi chuyên dùng để đảm bảo bụi được tách triệt để. Trường hợp sử dụng máy thổi khí, quá trình làm sạch không triệt để do bụi sẽ bay từ nơi này sang nơi khác mà không bị tách loại hẳn.

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

Các phương pháp xử lý nền đất yếu

Phương pháp xử lí đất yếu gồm nhiều loại, căn cứ vào điều kiện địa chất, nguyên nhân và đòi hỏi với công nghệ khắc phục
Kỹ thuật cải tạo đất yếu thuộc lĩnh vực địa kỹ thuật, nhằm đưa ra các cơ sở lý thuyết và phương pháp thực tế để cải thiện khả năng tải của đất sao cho phù hợp với yêu cầu của từng loại công trình khác nhau.

Với các đặc điểm của đất yếu như trên, muốn đặt móng công trình xây dựng trên nền đất này thì phải có các biện pháp kỹ thuật để cải tạo tính năng chịu lực của nó. Nền đất sau khi xử lý gọi là nền nhân tạo.

Việc xử lý khi xây dựng công trình trên nền đất yếu phụ thuộc vào điều kiện như: Đặc điểm công trình, đặc điểm của nền đất... Với từng điều kiện cụ thể mà người thiết kế đưa ra các biện pháp xử lý hợp lý. Có nhiều biện pháp xử lý cụ thể khi gặp nền đất yếu như:


  • Các biện pháp xử lý về kết cấu công trình
  • Các biện pháp xử lý về móng
  • Các biện pháp xử lý nền



Các biện pháp xử lý về kết cấu công trình 

Kết cấu công trình có thể bị phá hỏng cục bộ hoặc hoàn toàn do các điều kiện biến dạng không thỏa mãn: Lún hoặc lún lệch quá lớn do nền đất yếu, sức chịu tải bé.

Các biện pháp về kết cấu công trình nhằm giảm áp lực tác dụng lên mặt nền hoặc làm tăng khả năng chịu lực của kết cấu công trình. Người ta thường dùng các biện pháp sau:

Dùng vật liệu nhẹ và kết cấu nhẹ, thanh mảnh, nhưng phải đảm bảo khả năng chịu lực của công trình nhằm mục đích làm giảm trọng lượng bản thân công trình, tức là giảm được tĩnh tải tác dụng lên móng.
Làm tăng sự linh hoạt của kết cấu công trình kể cả móng bằng cách dùng kết cấu tĩnh định hoặc phân cắt các bộ phận của công trình bằng các khe lún để khử được ứng suất phụ phát sinh trong kết cấu khi xảy ra lún lệch hoặc lún không đều. 

Làm tăng khả năng chịu lực cho kết cấu công trình để đủ sức chịu các ứng lực sinh ra do lún lệch và lún không đều bằng các đai bê tông cốt thép để tăng khả năng chịu ứng suất kéo khi chịu uốn, đồng thời có thể gia cố tại các vị trí dự đoán xuất hiện ứng suất cục bộ lớn.

Các biện pháp xử lý về móng

Khi xây dựng công trình trên nền đất yếu, ta có thể sử dụng một số phương pháp xử lý về móng thường dùng như:

Thay đổi chiều sâu chôn móng nhằm giải quyết sự lún và khả năng chịu tải của nền; Khi tăng chiều sâu chôn móng sẽ làm tăng trị số sức chịu tải của nền đồng thời làm giảm ứng suất gây lún cho móng nên giảm được độ lún của móng; Đồng thời tăng độ sâu chôn móng, có thể đặt móng xuống các tầng đất phía dưới chặt hơn, ổn định hơn. Tuy nhiên việc tăng chiều sâu chôn móng phải cân nhắc giữa 2 yếu tố kinh tế và kỹ thuật.
Thay đổi kích thước và hình dáng móng sẽ có tác dụng thay đổi trực tiếp áp lực tác dụng lên mặt nền, và do đó cũng cải thiện được điều kiện chịu tải cũng như điều kiện biến dạng của nền. Khi tăng diện tích đáy móng thường làm giảm được áp lực tác dụng lên mặt nền và làm giảm độ lún của công trình. Tuy nhiên đất có tính nén lún tăng dần theo chiều sâu thì biện pháp này không hoàn toàn phù hợp. 

Thay đổi loại móng và độ cứng của móng cho phù hợp với điều kiện địa chất công trình: Có thể thay móng đơn bằng móng băng, móng băng giao thoa, móng bè hoặc móng hộp; trường hợp sử dụng móng băng mà biến dạng vẫn lớn thì cần tăng thêm khả năng chịu lực cho móng; Độ cứng của móng bản, móng băng càng lớn thì biến dạng bé và độ lún sẽ bé. Có thể sử dụng biện pháp tăng chiều dày móng, tăng cốt thép dọc chịu lực, tăng độ cứng kết cấu bên trên, bố trí các sườn tăng cường khi móng bản có kích thước lớn.

Các biện pháp xử lý nền 

Phương pháp thay nền. Đây là một phương pháp ít được sử dụng, để khắc phục vướng mắc do đất yếu, nhà xây dựng thay một phần hoặc toàn bộ nền đất yếu trong phạm vi chịu lực công trình bằng nền đất mới có tính bền cơ học cao, như làm gối cát, đệm cát. Phương pháp này đòi hỏi kinh tế và thời gian thi công lâu dài, áp dụng được với mọi điều kiện địa chất. Bên cạnh đó cũng có thể kết hợp cơ học bằng phương pháp nén thêm đất khô với điều kiện địa chất đất mùn xốp.
Các phương pháp cơ học.
 Là một trong những nhóm phương pháp phổ biến nhất, bao gồm các phương pháp làm chặt bằng sử dụng tải trọng tĩnh(phương pháp nén trước), sử dụng tải trọng động(đầm chấn động), sử dụng các cọc không thấm, sử dụng lưới nền cơ học và sử dụng thuốc nổ sâu , phương pháp làm chặt bằng giếng cát, các loại cọc (cọc cát, cọc xi măng đất, cọc vôi...), phương pháp vải địa kỹ thuật, phương pháp đệm cát...để gia cố nền bằng các tác nhân cơ học.
Sử dụng tải trọng động khá phổ biến với điều kiện địa chất đất cát hoặc đất sỏi như dùng máy đầm rung, đầm lăn. Cọc không thấm như cọc tre, cọc cừ tràm, cọc gỗ chắc thường được áp dụng với các công trình dân dụng. Sử dụng hệ thống lưới nền cơ học chủ yếu áp dụng để gia cố đất trong các công trình xây mới như đường bộ và đường sắt. Sử dụng thuốc nổ sâu tuy đem lại hiệu quả cao trong thời gian ngắn, nhưng không thích hợp với đất sét và đòi hỏi tính chuyên nghiệp của nhà xây dựng.
Phương pháp vật lý: Gồm các phương pháp hạ mực nước ngầm, phương pháp dùng giếng cát, phương pháp bấc thấm, điện thấm...
Phương pháp nhiệt học. 
Là một phương pháp độc đáo có thể sử dụng kết hợp với một số phương pháp khác trong điều kiện tự nhiên cho phép. Sử dụng khí nóng trên 800o để làm biến đổi đặc tính lí hóa của nền đất yếu. Phương pháp này chủ yếu sử dụng cho điều kiện địa chất đất sét hoặc đất cát mịn. Phương pháp đòi hỏi một lượng năng lượng không nhỏ, nhưng kết quả nhanh và tương đối khả quan. 
Các phương pháp hóa học. Là một trong các nhóm phương pháp được chú ý trong vòng 40 năm trở lại đây. Sử dụng hóa chất để tăng cường liên kết trong đất như xi măng, thủy tinh, phương pháp Silicat hóa… hoặc một số hóa chất đặc biệt phục vụ mục đích điện hóa. Phương pháp xi măng hóa và sử dụng cọc xi măng đất tương đối tiện lợi và phổ biến. Trong vòng chưa tới 20 năm trở lại đây đã có những nghiên cứu tích cực về việc thêm cốt cho cọc xi măng đất. Sử dụng thủy tinh ít phổ biến hơn do độ bền của phương pháp không thực sự khả quan, còn điện hóa rất ít dùng do đòi hỏi tương đối về công nghệ. 
Phương pháp sinh học.
 Là một phương pháp mới sử dụng hoạt động của vi sinh vật để làm thay đổi đặc tính của đất yếu, rút bớt nước úng trong vùng địa chất công trình. Đây là một phương pháp ít được sự quan tâm, do thời gian thi công tương đối dài, nhưng lại được khá nhiều ủng hộ về phương diện kinh tế.
Các phương pháp thủy lực.
 Đây là nhóm phương pháp lớn như là sử dụng cọc thấm, lưới thấm, sử dụng vật liệu composite thấm, bấc thấm, sử dụng bơm chân không, sử dụng điện thẩm. Các phương pháp phân làm hai nhóm chính, nhóm một chủ yếu mang mục đích làm khô đất, nhóm này thường đòi hỏi một lượng tương đối thời gian và còn khiêm tốn về tính kinh tế. Nhóm hai ngoài mục đích trên còn muốn mượn lực nén thủy lực để gia cố đất, nhóm này đòi hỏi cao về công nghệ, thời gian thi công giảm đi và tính kinh tế được cải thiện đáng kể.    Ngoài ra còn có các phương pháp mới được nghiên cứu như rung hỗn hợp, đâm xuyên, bơm cát…

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Lắp dựng tháp cẩu cho công trình

Chào các bạn !
Hẳn dân xây dựng mới ra trường chưa có cơ hội tiếp xúc và làm việc với cẩu tháp. 
Vậy các bạn hãy xem video dưới để biết cẩu tháp được lắp ráp thế nào nhé.

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Tài liệu dành cho Tư vấn giám sát


1) Sổ tay Tư Vấn Giám Sát.
DownloadTác giả: Viện Khoa Học Công Nghệ GTVT.
2) Yêu Cầu và nhiệm vụ của TVGS thi công công trình xây dựng.
Download
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp
3) Giám sát - Một số vấn để thể chế chuyên ngành GTVT. 
DownloadTrình bày: Phạm Sanh. 
Nội dung:
- Quản lý đầu tư.
- Quản lý chất lượng.
- Công tác giám sát.
- Một số bài học.